Chương 1
Thuở vũ trụ còn chìm trong hỗn độn, hồng hoang sơ khai, thiên hạ chỉ chấp nhận duy nhất một vị quân vương: Bàn Cổ Đại Đế, người đã khai mở trời đất, kiến tạo nên toàn bộ thế giới.
Khi ấy, trời và đất chưa phân cách xa vời vợi, con người sống trên mặt đất, còn thần linh ngự trên đỉnh non tiên. Một chiếc thang trời đủ để nối liền hai cõi. Thần tộc, Nhân tộc và Yêu tộc cùng chung sống dưới một vòm trời.
Bàn Cổ Đại Đế có ba thuộc hạ thân cận, tình nghĩa như anh em. Trong số đó, người sở hữu thần lực cao cường nhất là một nữ tử. Thời gian đã quá lâu khiến tên tuổi của bà không thể tra cứu, người đời chỉ biết sau này bà lập nên Hoa Tư quốc và được tôn xưng là Hoa Tư Thị. Hai vị còn lại là nam nhân: một là Thần Nông Thị, đóng ở Trung Nguyên, giữ yên bốn cõi; người kia là Cao Tân Thị, đóng ở phía Đông, trấn giữ Thang Cốc nơi mặt trời ló rạng và Quy Khư – chốn hội tụ của ngàn vạn dòng nước trên thế gian.
Sau khi Bàn Cổ Đại Đế quy tiên, lửa chiến tranh lập tức bùng lên khắp thiên hạ. Chán ghét cảnh chinh chiến liên miên, Hoa Tư Thị đã rời bỏ trần thế, lánh đời sáng lập ra Hoa Tư quốc tươi đẹp và hòa bình. Tuy nhiên, hậu thế tưởng nhớ đến bà lại không phải vì Hoa Tư quốc, mà là nhờ hai người con trai và con gái của bà: Phục Hy và Nữ Oa.
Phục Hy và Nữ Oa đặt nặng cả ân lẫn uy trong việc cai trị, khiến anh hùng thiên hạ đều tâm phục khẩu phục. Sau cùng, họ đã chấm dứt được nạn can qua, được tôn xưng là Phục Hy Đại Đế và Nữ Oa Đại Đế.
Cả vùng đại hoang chồng chất tang thương một lần nữa được đón cảnh thái bình, dần dần khôi phục sức sống.
Mấy ngàn năm sau, Phục Hy Đại Đế qua đời. Nữ Oa Đại Đế đau xót khôn nguôi, quyết định ẩn cư tại Hoa Tư quốc. Từ đó trở đi, không còn ai từng gặp lại bà, sống hay đã chết cũng chẳng ai hay biết, khiến tộc Phục Hy—Nữ Oa dần dà suy tàn.
Trải qua bấy nhiêu thăng trầm cùng sự xuống dốc của tộc Phục Hy, hai tộc Thần Nông ở Trung Nguyên và Cao Tân ở Đông Nam đã vươn lên trở thành hai đại bá chủ. Dù ngoài mặt vẫn giữ đúng giao ước cắt máu ăn thề trước Phục Hy—Nữ Oa Đại Đế, cam kết không xâm phạm lẫn nhau, nhưng bên trong, dã tâm thôn tính đối phương đã ngùn ngụt cháy.
Phía Tây Bắc đại hoang có một ngọn núi không tên tuổi, gọi là Hiên Viên sơn. Dưới chân núi là nơi cư trú của Hiên Viên tộc, một Thần tộc nhỏ yếu chẳng mấy ai biết tới. Sau nghi thức cúng tế long trọng, đại trưởng lão của bộ tộc đã gạt bỏ mọi dị nghị của tộc nhân, chọn vị anh hùng trẻ tuổi nhất trong tộc làm thủ lĩnh. Chính vị đại trưởng lão ấy cũng chẳng thể ngờ thiếu niên đó sẽ hoàn thành được sự nghiệp vĩ đại nhường nào.
Trải qua mấy ngàn năm, vị thiếu niên thống lĩnh Hiên Viên tộc vô danh kia đã trưởng thành vượt bậc. Tới khi Thần Nông và Cao Tân nhận thức được sự nguy hiểm của chàng, họ đã bỏ lỡ thời cơ tiêu diệt, đành bất lực nhìn Hiên Viên tộc nhảy vọt lên thành đại Thần tộc thứ ba, thế lực sánh ngang với hai Thần tộc từ thời thượng cổ là Thần Nông và Cao Tân.
Thần Nông tộc, đứng đầu ba đại Thần tộc, chính là hậu duệ của Thần Nông Thị năm xưa vâng mệnh Bàn Cổ đóng tại Trung Nguyên. Thủ lĩnh được tôn là Viêm Đế, người lấy nhân trị nước. Cao Tân tộc, hậu duệ của Cao Tân Thị trấn giữ Đông Nam thuở trước. Thủ lĩnh được tôn là Tuấn Đế, người lấy lễ trị nước. Cuối cùng là Hiên Viên tộc mới quật khởi, thống trị Tây Bắc. Thủ lĩnh được tôn là Hoàng Đế, người lấy pháp trị nước.
Cũng từ đó, Thần Nông ở Trung Nguyên, Cao Tân ở Đông Nam và Hiên Viên ở Tây Bắc đã chia ba thiên hạ, tạo thành thế chân vạc.
“Các ngươi đừng si tâm vọng tưởng nữa,” Vu vương thấy bốn gã sầm mặt lại, bèn nói tiếp. “Lần này Hỏa thần Chúc Dung đích thân tới tiêu diệt Thú vương. Trong thiên hạ, còn ai dám đối đầu với hắn chứ? Lẽ nào các ngươi thực sự muốn Thú vương của Cửu Di ta phải chết sao?”
Thần Nông quốc nằm ở miệt Trung Nguyên phì nhiêu nhất đại hoang, cũng là quốc gia đông dân và dồi dào sản vật nhất.
Phía Tây Nam là vùng núi non trùng điệp, khe rãnh dọc ngang, đầy rẫy độc trùng chướng khí, hung cầm ác thú hoành hành. Đường sá hiểm trở, lại bị ngăn cách với thế giới bên ngoài, nên bị xem là chốn man di mọi rợ. Nơi đây có bộ tộc Cửu Di cư trú với phong tục tập quán vô cùng lạc hậu, khác một trời một vực so với các bộ tộc ngoài kia. Vì thế, họ bị Thần tộc liệt vào hạng tiện dân thấp kém: trai sinh ra làm nô bộc, gái sinh ra làm tỳ nữ.
Hơn trăm năm trước, Cửu Di tộc không chịu nổi ách nô dịch tàn khốc của Nhân tộc bèn liên kết hơn trăm sơn trại nổi dậy. Nhờ có một con yêu thú hung mãnh yểm trợ, họ đã đánh bại mười mấy đại tướng Thần tộc đi dẹp loạn phải thất bại quay về. Sự việc sau cùng kinh động đến cả Viêm Đế. Đệ nhất cao thủ Thần tộc bấy giờ là Chúc Dung bèn tình nguyện xin đi hàng phục con yêu thú nổi loạn đó.
Giữa biển mây, một hàng chừng mười tọa kỵ do các thần tướng điều khiển lướt đi vun vút.
Phóng mắt nhìn ra xa, Cửu Di sơn trải dài ngàn dặm trong màn sương mù vương vấn, trùng trùng điệp điệp, chót vót cheo leo. Từng ngọn núi xanh um, thưa thưa nhặt nhặt, gần xa bồng bềnh giữa khói mây mờ mịt. Gió đến thì hiện, gió hết lại khuất, hệt như một bức tranh thủy mặc.
Một thần tướng nhỏ thó, mặc áo đen, cười nói: “Chẳng ngờ dải đất man rợ Cửu Di lại đẹp đến thế này. Hèn chi đám nô tỳ Cửu Di đều xinh đẹp, được các nhà hào môn quyền quý Nhân tộc rất ưa chuộng. Xưa kia năm nào cũng có nô tỳ mới tiến cống, vậy mà từ khi đồ súc sinh kia gây loạn, hơn trăm năm nay Cửu Di không cống nạp nữa. Nghe nói bây giờ một nô tỳ Cửu Di thứ thiệt có thể đổi được một cây san hô lam dưới đáy biển Quy Khư đó.” San hô dưới đáy Quy Khư đối với Nhân tộc chỉ là vật để khoe giàu, nhưng đối với Thần tộc lại là thành phần trị thương. Y nói mà đôi mắt đã lóe lên tham lam, rõ ràng đã có tính toán riêng.
Nam tử mặc áo lam bên cạnh nhắc nhở: “Đừng để phong cảnh trước mắt mê hoặc. Núi rừng Cửu Di hung hiểm lắm. Thần tộc chúng ta chẳng sợ chim dữ thú hoang, nhưng độc chướng có thể xâm nhập vào linh thể, tuyệt đối không được chủ quan. Thuộc hạ của vương tử Du Võng là Đào Nhạc đã bị trúng chướng khí do súc sinh đó giăng ra, đến giờ linh lực còn chưa hồi phục hẳn đấy thôi…”
Nam tử dẫn đầu lạnh lùng cười khẩy. Kẻ áo lam biết mình đã lỡ lời, vội im như thóc. Vị thần tướng cười nhạt trông khá anh tuấn, có điều trong mắt thấp thoáng vẻ tàn nhẫn khiến người ta chẳng dám nhìn lâu. Hắn giẫm trên lưng Tất Phương điểu—loài chim được xưng là “đại hoang ác cầm”, mình khoác chiến bào đen tuyền, trước ngực thêu một ngọn lửa ngũ sắc thếp vàng rất lớn. Thoạt nhìn dấu ấn đó, người ta đã nhận ra hắn chính là cao thủ đệ nhất của Thần Nông quốc: Chúc Dung. Dù Du Võng là vương tử, nhưng Chúc Dung thần lực cao cường, nắm giữ binh quyền, xưa nay chưa từng coi Du Võng vào đâu cả.
Thần tướng áo đen gầy đét tên là Hắc Vũ, rất giỏi lấy lòng người. Y biết được tâm tư Chúc Dung, liền cười nhạt nói đón: “Đâu phải chướng khí độc vật lợi hại, là thuộc hạ của vương tử vô dụng quá thôi! Hơn trăm năm không giết nổi một con súc sinh chưa thông linh trí, lại hao tổn mất mấy viên đại tướng. Lần này Chúc Dung tướng quân đã thân chinh ra tay, con súc sinh đó đừng hòng trông thấy mặt trời ngày mai. Sáng mai trên điện Tử Kim, tướng quân sẽ quăng đầu con súc sinh đó ra trước mặt tất cả đại thần, cho Du Võng mất mặt!”
Ánh mắt Chúc Dung lộ vẻ đắc ý, nhưng vẫn lạnh lùng nạt: “Bớt nói nhảm! Ta phụng mệnh Viêm Đế làm việc, các ngươi đều phải toàn lực ứng phó. Chừng nào giết được nó thì muốn gì ta thưởng cho cái đó, mấy mẩu san hô Quy Khư đáng gì?”
Các thần đều tươi cười hớn hở, cao giọng tạ ơn. Nam tử áo lam lúc đầu có tiếng hành sự cẩn trọng, tên là Lam Điền, nói: “Cửu Di sơn núi cao rừng sâu, địa hình phức tạp, con súc sinh kia lại thông thuộc địa hình và giỏi ẩn núp. Chả thế mà các thần tướng trước đây truy sát suốt trăm năm vẫn không giết nổi. Nếu nó cứ lẩn trốn quanh vùng rừng núi này không ra mặt, e rằng nhất thời chúng ta chẳng tìm thấy đâu.”
Các vị thần tướng len lén liếc nhau, đều dồn ánh mắt về phía Hắc Vũ khiến y hoảng hốt, chỉ sợ bị Chúc Dung hỏi kế sách.
Nào ngờ Chúc Dung lại cười nhạt: “Ta sớm nghĩ ra cách xử lý nó rồi. Muốn đối phó với dã thú, đương nhiên phải đặt mồi giăng bẫy. Chúng ta cứ việc canh bẫy đợi nó tự đến nộp mạng là xong. Các người đi bắt hết đàn ông tráng niên tộc Cửu Di lại, hạn cho nó trước khi mặt trời xuống núi phải xuất hiện. Bằng không, sau khi mặt trời lặn, cứ tàn một nén nhang là giết mười người. Chừng nào nó ra mặt thì thôi.”
Lam Điền lộ rõ vẻ kinh hoàng, các thần tướng khác cũng biến sắc, chỉ mình Hắc Vũ cười nịnh nọt tâu: “Tướng quân anh minh! Con súc sinh này do đám tiện dân Cửu Di thả ra, thì hãy dùng chính đám tiện dân ở đó bắt về. Thuộc hạ nghe nói hôm nay là tết Khiêu Hoa ở Cửu Di. Đám tiện dân đó không cử hành hôn lễ, nhưng nam nữ đều tụ cả về Khiêu Hoa cốc, giao phối với nhau như thú vật. Giờ chúng ta cứ tới thẳng đó, đỡ phải bắt bớ.”
Lam Điền lập bập lên tiếng: “Thần tộc không được lạm sát Nhân tộc. Lỡ… lỡ Viêm Đế biết được thì hỏng bét…”
“Viêm Đế biết sao được? Ngươi định đi tố giác?” Chúc Dung lạnh lùng nhìn y.
Lam Điền lập tức quỳ sụp xuống, “Thuộc hạ một lòng trung thành với tướng quân.”
Chúc Dung hừ mũi, hạ lệnh: “Chúng ta đi xem thử tết Khiêu Hoa của đám tiện dân đó.”
“Tuân lệnh!” Các thần đồng thanh hưởng ứng.
Sâu trong Cửu Di sơn.
Cây quá cao, rừng quá rậm rạp nên dù mặt trời ngoài kia rạng rỡ tới đâu, trong khe núi này cũng chỉ nhập nhoạng như lúc chiều tà. Vu vương tộc Cửu Di quỳ trên thảm lá mục, đầu hướng về phía núi, vẻ mặt cung kính.
Lão dập đầu bái lạy mấy lần rồi cao giọng hô vang: “Xin vua của muông thú lắng nghe lời chúng con khẩn cầu!”
Gió rừng lồng lộng, núi non trùng trùng, chẳng nghe tiếng đáp lại.
Vu vương cũng đã quen, xưa nay chưa ai tận mắt trông thấy Thú vương bao giờ, chẳng ai biết ngài là hổ hay gấu. Bọn họ chỉ đời đời tin tưởng vào sự tồn tại của ngài mà thôi. Vu vương ủ rũ nói tiếp, giọng nghẹn lại: “Thú vương, xin ngài mau trốn đi! Viêm Đế đã phái Hỏa thần Chúc Dung dẫn thần tướng tới giết ngài. Chúc Dung là đệ nhất cao thủ tộc Thần Nông, nghe nói hắn thao túng lửa trong thiên hạ, chỉ một đốm lửa có thể thiêu trụi cả tòa thành. Từ thần đến yêu, chẳng ai dám mạo phạm. Ngài cũng khó mà chống nổi, xin hãy mau trốn đi thôi!”
Rào rào, rào rào.
Một đống dẻ dại đổ ập lên người Vu vương khiến lão tóe máu đầu.
“Chi chi, chi chi…” Mấy con khỉ treo mình, chuyền qua chuyền lại giữa các ngọn cây. Chúng vừa hung hăng nghiến răng ken két, vừa tới tấp ném quả dại vào Vu vương, rõ ràng muốn đuổi lão đi.
Vu vương chẳng những không tránh né, mà còn lê gối tiến tới, ra sức dập đầu khóc lóc: “Tâu Thú vương, ngài vốn ở trong núi sâu tự đến tự đi, không ràng không buộc. Cửu Di tộc chúng con là tiện dân, đáng ra nam phải làm nô, nữ phải là tỳ. Trăm năm trước, tại chúng con si tâm vọng tưởng, đã kéo ngài vào mối họa tày trời này, để đến giờ Thần tộc nổi giận, phái Hỏa thần Chúc Dung tới tiêu diệt ngài. Chúc Dung thần lực vô biên, có thể khiến trời nghiêng đất lệch. Nghe đồn chín trăm năm trước, có một con yêu long ở núi Phù Ngọc ngoài biển Đông dẫn theo hơn một ngàn tiểu yêu quái làm loạn. Viêm Đế phái hơn trăm đại tướng Thần tộc đi cũng không hàng phục nổi. Chúc Dung bấy giờ vừa mới trưởng thành liền xin xuất chinh, chỉ bày một trận địa lửa đã thiêu tất cả yêu quái thành tro bụi.”
Sợ Thú vương nghe không hiểu, Vu vương đánh liều mạo phạm khuyên nhủ: “Ngài sinh ra trong núi, lớn lên trong núi, làm sao hiểu được sự lợi hại của cao thủ Thần tộc chính tông. Nếu ví ngài với loài hổ báo hung mãnh nhất trên núi, thì kẻ lần này tới chính là thợ săn giỏi nhất trên đời. Hổ báo hung mãnh chừng nào cũng không chống nổi thợ săn bản lĩnh cao cường đâu. Thú vương ơi, van cầu ngài rời khỏi Cửu Di đi! Chúng con cam lòng làm nô làm tỳ để người ta sai khiến…”