Chương 3
Ta nghiêm giọng nói: “Đem bài vị của Thái phu nhân mời ra.”
Hầu gia thấy mấy bà tử cẩn trọng nâng bài vị phủ vải đỏ tiến lên, gân xanh trên trán nổi hẳn, giọng vừa giận vừa sợ: “Trương Cửu Nương! Ngươi điên rồi sao?”
Ta mỉm cười, thong thả đáp: “Thiếp không điên. Chỉ là thiếp nghe nói thiếp thất của chàng mang thai trưởng tử, nên muốn mời ra đây chúc mừng thôi.”
Lời vừa dứt, cả sảnh liền rơi vào tĩnh lặng như chết. Ta nghiêng đầu nhìn biểu cô nương, giọng vẫn ôn hòa: “Muội nói xem, có phải vậy chăng?”
Nàng ta cúi đầu, vai run rẩy, tỏ vẻ yếu đuối đáng thương như liễu trước gió, nhưng không hé môi nửa lời. Còn Hầu gia, sắc mặt biến đổi đến mức có thể mở cả tiệm nhuộm.
“Ngươi… ngươi nói nhảm gì vậy?” – hắn quát to, cố làm ra vẻ phẫn nộ, nhưng giọng lại lộ rõ hoảng hốt.
Ta chỉ khẽ cười: “Nói nhảm hay không, mời đại phu tới bắt mạch sẽ rõ. Dù sao phạm lễ trong thời gian thủ tang là tội bất hiếu đứng đầu trong thập đại tội ác. Cho dù là Hầu gia, cũng khó thoát tám mươi gậy.”
Nói đến đây, sắc mặt Hầu gia liền biến đổi, vừa sợ vừa tức, bàn tay siết chặt đến run lên.
“Phản rồi! Ngươi dám ở đây nói bậy nói bạ, còn không mau cút về phủ!”
Ta ngồi yên không nhúc nhích, ánh mắt bình thản nhìn sang biểu cô nương: “Còn muội thì sao? Một tiểu thư xuất thân quan gia, lại mang thai khi còn là khách trong phủ của biểu ca, thật khiến người ta mở mang tầm mắt.”
Nàng ta run lên bần bật, rồi bất ngờ bật khóc, ôm mặt bỏ chạy ra ngoài. Bọn nha hoàn, bà tử thất thanh kêu lên, Hầu gia hoảng hốt đuổi theo. Ta vẫn ngồi yên, chỉ hơi nhíu mày. Tửu lâu này nằm ngay bên bờ sông, nước lại nông – chẳng lẽ nàng ta định nhảy sông? Nếu nàng thật lòng muốn chết để giữ danh tiết, ta còn kính nàng là người biết lễ, biết xấu hổ. Nhưng ta hiểu, nàng không dám.
Quả nhiên, khi mọi người đuổi kịp, nàng ta mới giả vờ giãy giụa bên mép nước, làm ra vẻ tuyệt vọng. Hầu gia lao đến, cởi áo khoác khoác lên người nàng ta, dáng vẻ vừa đau lòng vừa thương tiếc. Dân chúng quanh đó tụ tập ngày càng đông. Ta khẽ thở dài, đứng dậy bước tới, giọng vẫn bình tĩnh: “Trong thời gian thủ tang mà tư thông, ấy là đại bất hiếu. Dù có là Hầu gia, cũng phải chịu hình phạt theo pháp luật. Hai người, đều sai cả về tình, về lý, về lễ.”
Giọng ta không lớn, nhưng đủ để mọi người nghe thấy. Hầu gia lập tức tái mặt.
Biểu cô nương thì ngừng khóc một lát, rồi lại òa lên nức nở: “Tẩu tẩu, muội biết muội sai, là muội không phải! Nhưng tẩu đừng trách biểu ca, chàng chỉ vì vui mừng khi biết muội mang thai. Dù sao đây cũng là chuyện trong nhà, Ngự sử nào lại xen vào…”
Nàng vừa nói, vừa nhìn ta đầy oan ức. Hầu gia lập tức mềm lòng, vội vàng đỡ lấy nàng ta: “Thì ra là hiểu lầm! Nha đầu ngốc, mẫu thân ta từng nói sẽ phong muội làm quý thiếp, muội vốn là người trong Hầu phủ rồi!”
Ta nghe mà lạnh lẽo trong lòng. Ngẩng lên, ta khẽ vỗ lên bài vị của Thái phu nhân bên cạnh, giọng nghiêm nghị: “Biểu cô nương, khi Thái phu nhân còn sống, ngươi từng thề sẽ không tranh ngôi trưởng tử. Nay lời thề ấy còn giữ được chăng?”
Hầu gia đỏ mặt, vừa xấu hổ vừa giận dữ, chỉ tay vào ta quát: “Đàn bà đanh đá! Việc nhà mà cũng đem ra ngoài nói, ngươi có còn coi ta là chủ gia hay không?”
Ta nén giận, giọng vẫn trầm ổn: “Người chưa vào cửa đã mang thai, chẳng khác gì ngoại thất. Vậy đứa trẻ này, là con của ai? Là con chính thê, hay con của tỳ thiếp lén lút?”
Lời vừa dứt, không khí đông cứng lại. Biểu cô nương ngừng khóc, ánh mắt đen láy nhìn ta chằm chằm, sắc lạnh như dao. Nửa năm sau, ta vẫn ngồi trong sảnh chính xử lý sổ sách. Nha hoàn tâm phúc bẩm báo: “Hầu gia vẫn trách người keo kiệt, nói mỗi tháng chỉ cho hắn năm trăm lượng bạc, còn bảo người cậy vào bài vị Thái phu nhân mà ra oai.”
Ta nhàn nhạt đáp: “Mặc kệ hắn.”
Ta đã chẳng còn sức mà quản. Người như hắn, chẳng chịu lo toan việc nhà, chỉ biết phóng túng. Ta giữ được ngân khố Hầu phủ không thất thoát, thế là đủ.
“Còn bên Tây viện?” – ta hỏi.
Nha hoàn cười: “Biểu cô nương nay rất yên tĩnh, không oán trách, cũng chẳng ra khỏi viện.”
Ta khẽ nhướng mày: “Yên tĩnh đến thế ư? Kỳ lạ thật.”
Nhưng ta cũng không nghĩ thêm. Cho đến một ngày, tin tức truyền đến: án oan của phụ thân biểu cô nương được lật lại, không chỉ được minh oan mà còn được phục chức – đại quan tam phẩm!
Ta trầm mặc hồi lâu. Thì ra bấy lâu nay, nàng ta không hối lỗi, chỉ chờ thời cơ mà thôi. Mấy hôm sau, nàng ta tự mình tới phủ. Không còn vẻ yếu ớt đáng thương, mà khoác y phục gấm hoa, dung nhan sáng rực, thần thái tự tin.
“Tẩu tẩu,” nàng ta hành lễ, “muội phải về nhà rồi. Đa tạ tẩu nhiều năm qua đã… chiếu cố.”
Nàng nhấn mạnh hai chữ “chiếu cố”, nụ cười như dao sắc. Ta điềm nhiên đáp: “Chúc mừng muội muội, lệnh tôn được phục chức, lại trở về làm tiểu thư quan gia, thật là đáng mừng.”
Nàng ta ngồi xuống, đôi mắt đen sâu nhìn thẳng vào ta: “Tẩu nói đúng. Chỉ là, muội đã ở Hầu phủ nhiều năm, nay còn có thể gả cho ai?”
Ta mỉm cười: “Nếu muội muốn, ta có thể giúp chọn một mối tốt. Quan viên tứ, ngũ phẩm hay tân khoa Tiến sĩ đều được. Người có đức, có tài, còn trẻ tuổi, chẳng phải tốt hơn sao?”
Nàng ta nghe xong, bỗng bật cười lạnh: “Trương Cửu Nương, ngươi vẫn giả bộ cao thượng như thế.”
Giọng nàng cao vút, chứa đầy oán độc: “Ngươi là nữ nhân thương hộ mà còn có thể ngồi ghế Hầu phu nhân! Cớ gì ta – con gái quan tam phẩm – lại phải gả cho kẻ tầm thường? Năm đó ngươi ở trước mặt bao người hạ nhục ta, nay ta sẽ khiến ngươi trả giá!”
Ta khẽ nhíu mày, ánh mắt vẫn bình thản: “Biểu cô nương, người làm sai, nên chịu trách. Dù ngươi có quyền thế, cũng không thể đổi trắng thay đen.”
Nàng bật cười, nhặt đóa hoa trong bình ném mạnh xuống đất, cánh hoa văng tứ phía.
“Đừng tưởng Trương gia nhà ngươi có thể an ổn mãi! Chỉ một lời của cha ta, cũng đủ khiến các ngươi mất tất cả.”
Nói xong, nàng quay người bỏ đi, không ngoảnh lại. Cửa vừa khép, ta chỉ khẽ thở dài – trong lòng không giận, chỉ thấy lạnh lẽo.