Chương 19
Nhưng nói đi cũng phải nói lại, ông trời hình như vẫn hơi thương ta. Dù học hành gian nan, đầu óc không tính thông tuệ, nhưng vận số của ta cũng không đến nỗi nào.
Từ huyện thi, phủ thi, viện thi đến hương thi, tuy xếp hạng lúc nào cũng lẹt đẹt phần sau, nhưng lần nào cũng qua một lượt. Nghĩ lại, tỉ lệ này chắc còn thấp hơn cả thi bằng lái xe ở kiếp trước mà đỗ ngay lần đầu.
Mỗi lần cầm giấy báo đậu, ta lại âm thầm vỗ ngực tự khen: “Mẹ nó, mình đúng là thiên tài trời đánh!”
Nhưng đúng lúc ta đang lâng lâng trong ảo giác “đậu liên hoàn”, thầy dạy ta nghiêm mặt khuyên: “Từ Hằng, không cần vội dự hội thi. Thi thì thi, nhưng thi cho ra trò, chứ đừng để người ta nhìn vào rồi chép miệng bảo ‘lấy được cái danh đồng tiến sĩ, cái loại đội sổ’…”
Nói thẳng ra, thầy sợ ta vừa đậu mà lại xếp chót bảng, mang tiếng “đồng tiến sĩ”, cũng là đậu mà chẳng vẻ vang gì. Cá nhân ta thì… ta không nghĩ nhiều thế. Suy cho cùng, não ta vẫn mang tư duy đời trước: “Đậu là đậu, thằng cuối lớp thi đỗ cũng là thằng đậu, bằng cấp vẫn như nhau.”
Nhưng thầy nói cũng chẳng sai. Trong xã hội này, thứ bậc rất quan trọng, không phải cứ có danh là xong. Cái danh đậu sau chót, người ta nhớ hoài, mặt mũi đâu mà ngẩng lên?
Đúng lúc ấy, nhà lại có chuyện. Ông nội ta lâm bệnh nặng rồi qua đời. Tang gia phải thủ hiếu, chuyện thi cử vì thế trì hoãn. Vừa hay. Ta nghĩ chắc ông trời ngầm nhắc ta nên từ từ, đừng vội vàng thi thố thành trò cười.
Nghĩ thế, ta cũng tạm yên lòng, cắm đầu lo tang sự, để việc thi cử qua bên. Nói sao thì nói, thầy ta quả nhiên nhìn xa hơn ta một bước.
Mỗi lần nhớ lại chuyện cũ, ta đều không khỏi cảm thán: Ông trời đúng là khéo sắp đặt. Chỉ vì thủ hiếu mà ta lỡ kỳ hội thí năm đó, ai ngờ lại hóa thành chuyện tốt nhất đời ta.
Nhờ đó ta không chỉ thuận lợi đậu tiến sĩ, còn ôm được đùi to của Ninh Quốc Công phủ. Nghe buồn cười, nhưng ta thề, khoảnh khắc người ta mở miệng muốn gả con gái cho ta, ta thật sự nghi ngờ bản thân có đang đóng vai chính tiểu thuyết không.
Dù nói là con nuôi, nhưng con nuôi thì đã sao? Ninh Quốc Công phủ là cái tên có thể coi thường sao? Kể cả là dưỡng nữ, cái họ Triệu ấy cũng là bùa hộ mệnh vững chắc. Đối với ta, quả là trời rơi xuống miếng bánh to.
Ai sống thời này chẳng biết liên hôn quan trọng? Có nhà vợ vững chãi, con đường làm quan của ta ắt dễ đi hơn. Hơn nữa, ta vẫn giữ mình sạch sẽ, từ sớm từ chối việc cha mẹ định tìm nha hoàn thông phòng. Cũng từng nói thẳng: “Hôn nhân của con, không vội. Con cứ từ từ chọn, lấy người tử tế.”
Ta nghĩ, chỉ cần bản thân có chút bản lĩnh, chẳng lo thiếu vợ. Nếu ta cứ là thằng nhóc con nhà buôn, e rằng cả đời chỉ lấy được cô nương con nhà buôn, môn đăng hộ đối vậy thôi. Nhưng nay ta đã bước chân lên con đường đọc sách làm quan, có thể nối duyên cùng Ninh Quốc Công phủ, ta cảm thấy đời này không uổng.
Có người bảo đọc sách là để trung quân ái quốc, thanh bạch cao khiết, nhưng nói thật, ta nghĩ đơn giản: Ta học hành là để kiếm cơm, leo cao, sống tử tế hơn người. Nếu hôn nhân cũng là con đường giúp ta làm được điều đó, tại sao không?
Nên lúc Ninh Quốc công lần đầu nhắc chuyện kết thân, tuy ta khách khí nói phải về bẩm cha mẹ, nhưng trong bụng sớm mừng thầm, lời nói không giấu nổi hài lòng.
Chuyện hôn sự tiến triển thuận lợi hơn ta tưởng. Ta cứ ngỡ nhà thế gia vọng tộc thế này, hôn nhân sẽ sắp đặt, cưới xong mới gặp mặt, ai ngờ ông trời lại cho ta thêm món quà. Ta thật sự có cơ hội gặp Tứ tiểu thư – người sau này thành vợ ta.
Chỉ gặp qua một lần, nói vài câu khách khí, nhưng ta phải thừa nhận: Người thật còn xinh hơn lời đồn. Dáng vóc nhỏ nhắn, mặt mũi xinh xắn, dịu dàng mà đoan trang. Lúc ấy, ta từng lén nghĩ: Một cô nương như vậy, tuổi này chịu gả cho ta, lại “thấp gả”, chắc có vấn đề gì?
Nhưng vừa gặp, bao nghi ngờ tan sạch. Không bệnh, không tật, không ngốc, cũng chẳng xấu xí. Càng không phải loại đanh đá dữ dằn. Cái gọi là “thấp gả” này, với ta quả là ông trời ném thẳng miếng bánh vào mặt.
Sau thành thân, ta mới phát hiện A Hòa thực sự rất hợp với ta. Khác hình dung ban đầu về con gái nhà quyền quý, nàng không phải tiểu thư khuê các suốt ngày đàn hát cầm kỳ, cũng chẳng phải kiểu “mười ngón tay không dính nước xuân”, vừa mở miệng là thơ họa.
Ngược lại, nàng có thể cùng ta ngồi tán chuyện chợ búa phố xá, không ngại chia sẻ chuyện lặt vặt thường ngày. Có lần hai vợ chồng ngồi uống trà tán gẫu, ta thuận miệng nói: “Ta cứ tưởng con gái nhà quyền quý lúc nào cũng chỉ nói thi thư lễ nhạc, cầm kỳ thi họa.”
Nàng cười khẽ: “Thiếp chỉ là con nuôi thôi mà. Cha thiếp chỉ là tú tài, mẹ cũng chỉ là thôn phụ bình thường. Hai người mất sớm, chữ nghĩa thiếp cũng là sau này mới học từng chút.”
Nghe nàng nói vậy, ta giật mình. Thật lòng mà nói, trước giờ nhìn nàng cùng nhạc phụ, nhạc mẫu thân thiết như ruột thịt, ta cứ đinh ninh nàng được nuôi từ bé trong Ninh Quốc Công phủ. Thậm chí đã có lúc trong đầu nổi lên ý nghĩ hơi đen tối: Có khi nào… gọi là dưỡng nữ cho dễ nghe, chứ thực ra là con riêng?
Nhưng sau khi gặp nhạc mẫu, nhìn kỹ lại thấy nàng và nhạc mẫu quả thật rất giống, sắc vóc khí chất đều tương đồng. Thêm vào đó, các huynh trưởng, tỷ muội nhà họ đối với nàng cũng rất thân thiện, chẳng ai có chút xa cách. Chuyện này chắc đúng là dưỡng nữ thật.
Ta tò mò hỏi: “Không phải trước kia vẫn đồn nàng từ bé sống trong chùa cầu phúc sao?” Nàng cười nhẹ, nhún vai: “Đó là để nói với người ngoài thôi. Thực ra là trong một lần thiếp theo người đi cầu phúc, tình cờ gặp phu nhân bị ngất, thiếp gọi người cứu, tính ra cũng có chút ân tình. Sau đó, phu nhân thấy thiếp mồ côi, sống vất vả, thương xót nhận làm con nuôi. Mấy chuyện ‘từ bé nuôi trong phủ’ là để nói cho dễ nghe, đỡ bị soi mói.”
Nghe nàng nói xong, ta càng thấy xót xa. Cùng là người từng trải qua cảnh không sinh ra trong nhà quan lại, ta biết rõ dân nghèo thời này khổ sở ra sao. Khoảng cách giàu nghèo, giữa người có danh phận và kẻ không, còn khủng khiếp hơn thế giới cũ rất nhiều.
Nghĩ lại, ta chợt hiểu vì sao A Hòa tuy mang theo hồi môn lớn, bản thân chẳng phải lo cơm áo, nhưng nhiều lúc vẫn tính toán chi li từng đồng. Cái kiểu cân đo đong đếm ấy, ta nhìn thấy quen như chính mình ngày xưa săn sale, gom mã giảm giá. Thì ra là cùng một giống loài!
Mà khổ nỗi, đề tài là ta khơi lên, cuối cùng người nói nhiều lại là nàng. Nàng chẳng né tránh, cũng không tỏ ra tủi thân, cứ nhẹ nhàng kể chuyện xưa, từ tháng ngày êm ấm thời thơ ấu, đến biến cố thiên tai dịch bệnh cướp mất cha mẹ, rồi những năm tháng một mình lăn lộn kiếm sống.
Lúc nàng kể, ta vừa nghe vừa thấy lòng quặn thắt. Thật lòng mà nói, ta tự biết mình không đủ kiên cường để sống sót nếu đặt vào hoàn cảnh của nàng. Ta nhìn nàng, từ đáy lòng thốt ra: “A Hòa, nàng thật sự rất giỏi.”
Một cô gái, đơn độc giữa thời đại khắc nghiệt này, lại có thể kiên cường đi đến ngày hôm nay, đứng trước mặt ta thế này, nói không phục là giả. Ai ngờ, nàng cười, ngước mắt nhìn ta: “Thế còn phu quân thì sao? Hương cống khắp thiên hạ nhiều vô số, mà phu quân có thể đỗ tiến sĩ, không phải cũng rất lợi hại sao?”
Ờ… nghe nàng nói xong ta cũng thấy tự hào chút, nhưng ngẫm lại, mình hơn nàng chẳng bao nhiêu. Ta sống thêm hai mươi mấy năm nhờ cái đầu óc kiếp trước, tự giác hơn người. Cha mẹ yêu thương, gia đình có điều kiện, dù ta ngã cũng có người đỡ, chẳng ai để ta chết đói.
Nàng thì khác. Nàng là thật sự một thân một mình, lăn lộn từ đáy lên. Thế nên, nếu so với nàng, ta cũng chỉ là thằng may mắn hơn thôi. Mà ta nghĩ, cả đời này, ta nhất định phải thật lòng thương nàng, không chỉ vì là vợ chồng, mà vì nàng xứng đáng được như thế.