Chương 86
Chương 86: Chui đầu vào lưới
A Mạch quá rõ tính Từ Tĩnh, biết ông đã nói vậy thì có hỏi nữa cũng chỉ nhận được nụ cười bí hiểm, thế là nàng chẳng buồn hỏi thêm, chỉ lặng lẽ tăng cường độ huấn luyện trong doanh lên gấp bội.
Binh sĩ Thất doanh ngày nào cũng bị hành đến sống dở chết dở, muốn kêu ca cũng chẳng biết kêu ai. Mạch tướng quân còn đích thân xông pha cùng anh em, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, một tiểu binh như ngươi thì dám mở miệng sao? Có bao giờ thấy vị tướng quân nào ngày ngày lăn lê bò toài cùng binh sĩ chưa? Chưa thấy thì ngậm miệng lại, tiếp tục chạy đi!
Có một binh sĩ đội tư, ngũ bát từng học nửa năm ở trường làng, tổng kết một câu cực kỳ thấm thía: “Tướng quân nhà mình huấn luyện chúng ta chẳng khác gì huấn chó. Ra trận thì như chó điên, chạy thì như chó săn, tối về trướng thì như chó chết.”
Lúc ấy Vương Thất – đội chính đội tư – đang đứng gần đó, nghe xong lập tức đá cho gã một phát vào mông, mắng: “Thằng ôn con, dám nói thế à? May mà tướng quân nhà mình tốt tính, đổi thành người khác là mông ngươi đã nở hoa rồi!”
Gã binh sĩ ôm mông chuồn thẳng đi luyện tiếp. Vương Thất quay sang đồng liêu bên cạnh, nghiêm mặt giải thích: “Ngươi không ở đội tư nên không biết. Ngày trước đại nhân còn làm đội chính đội tư, đã từng bảo chúng ta: Làm lính, quan trọng nhất là hai cái chân. Thắng – đuổi thát tử, đuổi kịp mới chém được; Thua – thát tử đuổi mình, chỉ có chạy nhanh mới giữ được mạng.”
Đồng liêu gật đầu lia lịa.
Vương Thất lại nhíu mày lẩm bẩm: “Mẹ nó, hắn biết đại nhân nhà mình chạy nhanh như chó săn từ bao giờ nhỉ?”
Lần này đồng liêu không dám gật nữa.
A Mạch liều mạng như vậy khiến cả đám quan quân trong doanh đều không quen. Ai cũng biết đại nhân nhờ liều mạng mà lên chức, nhưng giờ đã là chủ tướng nhất doanh, ít nhiều cũng phải giữ thể diện chứ? Cần gì ngày ngày cùng đám tân binh múa đao lộng thương, lại còn vác đá chạy việt dã?
Nhìn A Mạch trên giáo trường múa đại đao hổ gió, Vương Thất thở dài tiếc nuối: “Haiz, thân thể nho tướng thế này mà cứ phí của giời…”
Lý Thiếu Triều lại chẳng để tâm lời Vương Thất, chỉ nhìn Hắc Diện cởi trần trùng trục đang dẫn lính chạy phía xa, lẩm bẩm: “Giá mà ai cũng không sợ lạnh như hắn thì tốt, ta đỡ tốn bao nhiêu là vải bông.”
Từ Tĩnh chắp tay đứng sau lưng hai người, nghe bọn họ nói năng như vịt nghe sấm, hừ lạnh một tiếng: “Hai tên nhóc, không lo luyện binh, đứng đây tán dóc!”
Vương Thất và Lý Thiếu Triều vội quay lại, thấy là Từ Tĩnh thì nhe răng cười: “Từ tiên sinh!”
Từ Tĩnh hếch cằm, mắt vẫn nhìn A Mạch trên giáo trường: “Yến tước an tri hồng hộc chi chí!”
Hai người nhìn nhau. Lý Thiếu Triều lanh lẹ, cúi người cười trừ: “Trong trướng ta còn sổ sách chưa tính xong, phải về kiểm lại… Tiên sinh, ta đi trước!” Nói xong chuồn thẳng.
Vương Thất há hốc mồm nhìn bóng lưng Lý Thiếu Triều, hồi lâu mới giật mình nhảy dựng: “A! Đại nhân bảo ta chỉnh sửa lại ám ngữ cho đội thám báo, sao giờ mới nhớ! Tiên sinh, ta đi đây!” Thế rồi cũng biến mất tăm.
Khi A Mạch thu binh cùng Trương Sĩ Cường trở về, bên giáo trường chỉ còn lại một mình Từ Tĩnh vẫn chắp tay đứng nhìn. Nàng lau mặt đầy mồ hôi, tiện tay ném khăn cho Trương Sĩ Cường, tiến đến hỏi: “Tiên sinh tìm ta?”
Từ Tĩnh khẽ gật đầu, cùng nàng đi về phía doanh trướng: “Đại doanh vừa gửi tin, Vệ Hưng triệu tập các doanh chủ ngày hai mươi hai tháng Chạp về nghị sự.”
“Lại về đại doanh?” A Mạch dừng bước, kinh ngạc: “Mới về chưa được bao lâu mà? Gọi lại làm gì? Chúng ta gần thì không sao, chứ mấy doanh xa vài trăm dặm, giữa đông lạnh cắt da cắt thịt thế này, hành nhau kiểu gì? Vệ Hưng rốt cuộc muốn làm gì?”
Từ Tĩnh thản nhiên: “Hắn muốn gì thì muốn, ngươi cứ đi là được.”
A Mạch cười nhạt: “Đương nhiên, tiểu doanh chủ như ta nào dám cãi lệnh.”
Từ Tĩnh liếc nàng, do dự một chút rồi dặn: “Lần này về đại doanh, tuyệt đối không được lén gặp Đường Thiệu Nghĩa.”
A Mạch cười: “Tiên sinh lo xa rồi. Lần trước ta đã chẳng gặp riêng, lần này càng không.”
Vệ Hưng đang kiêng kỵ Đường Thiệu Nghĩa, A Mạch thừa biết. Hơn nữa Trương Sinh hẹn uống rượu mà chưa từng thấy tới, chắc Đường Thiệu Nghĩa cũng hiểu rõ trong lòng.
Từ Tĩnh vuốt râu im lặng hồi lâu, đột nhiên nói: “A Mạch, ngươi làm rất tốt.” Ông ngừng một chút, lại nhấn mạnh: “Rất tốt.”
A Mạch khẽ giật mình, rồi cười: “Đa tạ tiên sinh khen ngợi.”
Từ Tĩnh chỉ cười nhạt, không nói thêm.
Ngày hai mươi mốt tháng Chạp, A Mạch dẫn Trương Sĩ Cường rời doanh lên đường. Trận tuyết vừa tạnh, trời trong nắng vàng. Tuyết phủ trắng Ô Lan sơn như một lớp áo pha lê lộng lẫy, đẹp đến ma mị. Đường núi bị tuyết lấp kín, may mà cả hai đều cưỡi ngựa, dù không thể phi nhanh nhưng vẫn hơn đi bộ gấp trăm lần.
Trương Sĩ Cường cưỡi ngựa bên cạnh, nhìn núi rừng trắng xóa, không hiểu sao lại nhớ tới năm ngoái – cũng ngày này, cũng tuyết lớn thế này, hai người trên đường đến Dự Châu, sinh tử treo sợi tóc.
“Đại nhân… ở Dự Châu giờ cũng có tuyết lớn thế này không nhỉ?” Hắn buột miệng hỏi.
A Mạch ngẩng đầu, ánh mắt lặng lẽ nhìn về những dãy núi trùng điệp xa xa, hồi lâu không đáp. Trương Sĩ Cường thầm trách mình lắm mồm, đang định mở lời xin lỗi thì A Mạch đã quay lại, mỉm cười nhẹ: “Tuyết trong núi… chắc lớn hơn Dự Châu một chút.”
Dự Châu, cũng vừa sau một trận tuyết lớn.
Đường phố trong thành vẫn còn trắng xóa. Phủ Thôi Diễn thì lối đá xanh đã được quét dọn sạch sẽ. Một thị nữ áo xanh ôm áo choàng lông chồn tím sẫm bước nhanh tới, gấu váy lướt trên mặt đá không để lại chút dấu. Nàng đi thẳng vào Nhuận Viên, chỉ khẽ gật đầu với thị vệ rồi bước vào phòng.
Trong phòng, Thôi Diễn và Thường Ngọc Thanh đang diễn binh trên sa bàn nhỏ. Thôi Diễn nghe tiếng, ngẩng lên thấy thị nữ áo xanh ôm áo choàng bước vào, khàn khàn bảo: “Để tạm đó, lát nữa Thường đại ca đi thì mặc.”
Giọng hắn khàn đặc. Một đao của A Mạch năm xưa tuy không lấy mạng hắn, nhưng đã làm tổn thương cổ họng. Vết thương lành rồi, song thiếu niên giáo úy năm nào phong độ ngời ngời giờ cổ lúc nào cũng quấn khăn đen, lời nói cũng ít hẳn.
Thị nữ khẽ vâng, cúi đầu đứng sang một bên.
Thường Ngọc Thanh mặt vẫn còn tái nhợt sau vết thương, ánh mắt rời sa bàn, liếc chiếc áo choàng, thờ ơ hỏi: “Tự nhiên mang áo cho ta làm gì?”
Thôi Diễn ngắn gọn: “Trời lạnh.”
Thường Ngọc Thanh bật cười, lại kéo theo cơn ho khẽ.
Thôi Diễn vội gọi: “Tú Nhi, mau…”
Chưa dứt lời, thị nữ áo xanh đã bưng trà ấm tới, nhẹ giọng: “Tướng quân uống ngụm trà ấm đi ạ.”
Thường Ngọc Thanh khoát tay cho nàng lui, đè ho xuống, cười: “Lạnh thế này đã là gì, bọc ta như cái bánh chưng rồi ra ngoài, người ta cười cho thối mũi.”
Thôi Diễn nghiến răng: “Nếu gặp Vệ Hưng, ta nhất định không cho hắn chết tử tế!”
Thường Ngọc Thanh cười khẽ: “Gặp Vệ Hưng thì phải cẩn thận. Nội gia công phu của hắn không tầm thường.”
“Thì đã sao?” Thôi Diễn hất hàm, “Có chống nổi vạn kỵ của chúng ta?”
Thường Ngọc Thanh khóe môi khẽ cong, cúi nhìn sa bàn, không đáp.
Thôi Diễn lại nói: “Đại ca, sang năm ta sẽ đến Thái Hưng. Nguyên soái đã an bài…”
Thường Ngọc Thanh đột nhiên ngẩng lên, ánh mắt sắc lạnh khiến nửa câu sau của Thôi Diễn nghẹn lại. Thôi Diễn quay sang Tú Nhi, nàng không cần chờ lệnh, khẽ cúi người thi lễ rồi lặng lẽ lui ra.
Chờ cửa khép, Thường Ngọc Thanh mới nhẹ giọng hỏi: “Nàng chính là thị nữ Thạch Đạt Xuân tặng ngươi?”
Thôi Diễn gật đầu: “Chính nàng. Lúc ta bị thương nặng, nguyên soái sợ thân binh thô kệch nên bảo tìm thị nữ. Thạch Đạt Xuân đưa nàng đến, người thông minh, lại biết ý.”
Thường Ngọc Thanh nhàn nhạt: “Biết ý mấy cũng là người Nam Hạ, không thể không phòng.”
Thôi Diễn gật đầu: “Ta nhớ rồi.” Hắn ngừng một chút, không nhịn được hỏi: “Đại ca… Vệ Hưng thật sẽ đánh Thái Hưng như nguyên soái đoán?”
Thường Ngọc Thanh cười nhẹ: “Nếu là Thương Dịch Chi ngày trước thì không. Còn Vệ Hưng mới lên… tám chín phần mười là có. Lương ở Bào Mã Xuyên bị đốt sạch, hắn khinh Chu lão tướng quân không còn lương, lại muốn lập uy trong Giang Bắc quân, e là muốn làm anh hùng cứu Thái Hưng đây.”
Thôi Diễn nắm chặt tay: “Lần này, nhất định để Giang Bắc quân có đi không có về, một tên cũng không tha!”
Nghe vậy, trong đầu Thường Ngọc Thanh chợt lóe lên bóng dáng cao gầy năm xưa, đuôi mày khẽ nhếch, cười khẩy: “Chưa chắc.”
Thôi Diễn ngẩn ra, khó hiểu nhìn hắn. Thường Ngọc Thanh không giải thích, chỉ nhếch môi: “Chỉ cần nhớ, nếu gặp lại “Mạch Tuệ” thì đừng khinh thường là được.”
Thôi Diễn lặng lẽ nhìn hắn hồi lâu, đột nhiên hỏi: “Nếu ta giết nàng… đại ca có trách ta không?”
Thường Ngọc Thanh ngẩn người, thấy vẻ mặt nghiêm túc của Thôi Diễn, bật cười: “Ngươi không giết nàng, chẳng lẽ còn muốn bắt sống?”
Thôi Diễn thở phào, cũng cười theo: “Ta còn sợ đại ca có ý với nàng, đến lúc gặp trên chiến trường không biết nên giết hay không!”
Thường Ngọc Thanh chậm rãi thu lại nụ cười, nghiêm giọng: “A Diễn, nhớ kỹ: chúng ta là quân nhân, trên sa trường chỉ có quốc gia, không có tư tình!”
Thôi Diễn nhìn hắn hồi lâu, rồi nặng nề gật đầu.
Thường Ngọc Thanh đoán không sai chút nào.
Vệ Hưng triệu tập các doanh chủ về đại doanh cuối năm chính là để bàn kế hoạch giải vây Thái Hưng năm sau. Là tân đại tướng quân Giang Bắc, sau khi Đường Thiệu Nghĩa đốt sạch lương doanh Bắc Mạc, Vệ Hưng thực sự quá cần một chiến công hiển hách để khẳng định vị thế.
Nam Hạ, Thịnh Nguyên năm thứ tư, tháng Hai.
Vệ Hưng bất chấp phản đối của Đường Thiệu Nghĩa và nhiều người khác, hạ đại tướng quân lệnh: các bộ phận Giang Bắc quân tại Ô Lan sơn lặng lẽ tập kết về phía đông nam.
Tháng Ba, hơn tám vạn quân – bộ binh, cung nỏ, cùng kỵ binh của Đường Thiệu Nghĩa – tập kết xong, theo tuyến Liễu Khê – Hán Bảo tiến thẳng cứu Thái Hưng.
Thái Hưng thành, sau gần hai năm bị Bắc Mạc vây khốn, cuối cùng cũng đón được viện quân lớn nhất từ trước đến nay.
Trong thành còn hơn ba vạn quân thủ, cộng với tám vạn Giang Bắc quân, tổng cộng mười một vạn. Trong ngoài giáp kích, hiệu quả gấp bội. Còn tám vạn quân Bắc Mạc của Chu Chí Nhẫn, sau khi lương doanh bị đốt sạch, đã thiếu lương gần nửa năm, chỉ dựa vào vận chuyển từ các thành chiếm được để cầm cự. Chỉ cần cắt đường lương, Bắc Mạc quân không đánh cũng tự loạn.
Mọi thứ trông như một món hời chắc thắng của Vệ Hưng.
Chỉ có điều, phía trước đã giăng sẵn một tấm lưới khổng lồ.
Và Trần Khởi – người giăng lưới ấy – đã chờ quá lâu rồi.