Chương 3
Nam Hạ lịch Thịnh Nguyên năm thứ hai, ngày hai mươi tám tháng Tám. Hán Bảo thành đã hoàn toàn rơi vào tay Bắc Mạc.
Thủ thành Lưu Cạnh tự vẫn trên đầu tường thành, máu nhuộm đỏ bậc đá xanh. Vợ ông là Trần thị dẫn hai nữ nhi treo cổ trong phủ đệ, ba thi thể đong đưa theo gió lạnh. Độc tử duy nhất của Lưu gia, từ đó bặt vô âm tín.
Màn đêm buông xuống, nhưng Hán Bảo không hề yên tĩnh. Ngược lại, nó đã biến thành địa ngục sống.
Ánh lửa lập lòe khắp ngõ ngách, tiếng cười dâm loạn của binh Bắc Mạc hòa lẫn tiếng khóc thét thê lương của dân chúng Nam Hạ, tiếng trẻ con oe oe, tiếng phụ nữ van xin, tiếng đồ sứ vỡ tan, tiếng quần áo bị xé rách, tiếng xương gãy vụn… Tất cả quấn quýt, gào thét, phóng túng, như một bàn tay vô hình bóp nghẹt trái tim người nghe, treo lơ lửng giữa trời đêm, run rẩy không thôi.
Trăng trên cao cũng không đành lòng chứng kiến, lặng lẽ trốn sau tầng mây dày đặc.
Trong khi thành nội là biển máu lửa, đại doanh Bắc Mạc ngoài thành lại yên ắng lạ thường. Trung quân đại trướng đèn đuốc sáng trưng. Năm sáu vị tướng lĩnh Bắc Mạc vây quanh một chiếc bàn vuông, giọng trầm thấp bàn bạc. Người đứng đầu không nói lời nào, chỉ cúi đầu nhìn bản đồ, ánh nến lay động khiến bóng hắn đổ dài trên vách trướng, sống động như ma quỷ.
Bên ngoài đột nhiên vang tiếng bước chân dồn dập. Một viên tướng giáp trụ đầy mình vén rèm bước vào, chắp tay: “Tướng quân, tám vạn kỵ binh đã chỉnh tề, chỉ đợi quân lệnh!”
Người nọ chậm rãi ngẩng đầu. Khóe môi cong lên một độ cung tàn nhẫn, nhưng đôi mắt lại lạnh như băng ngàn năm. Chính là Bắc Mạc tây lộ chủ tướng – Thường Ngọc Thanh.
Hắn liếc mắt một vòng, giọng lạnh thấu xương: “Kế hoạch vừa rồi, các ngươi đã nhớ rõ?”
Chư tướng đồng thanh: “Rõ!”
Chỉ có phó tướng Khương Thành Dực hơi do dự, ôm quyền: “Tướng quân, mạt tướng muốn…”
Thường Ngọc Thanh cắt ngang, cười mà như không: “Sao? Thành Dực thấy bản tướng an bài có chỗ nào không ổn?”
Khương Thành Dực vội cúi đầu: “Mạt tướng không dám! Chỉ là… nguyên soái từng dặn, mạt tướng phải luôn ở bên bảo vệ tướng quân.”
Thường Ngọc Thanh trong lòng cười lạnh. Nguyên soái phái tên thư sinh này đến bên hắn, còn không phải để trông chừng hắn? Dọc đường nghe hắn lải nhải đạo lý, hắn đã sớm ngứa mắt. Lần này phân binh, hắn cố ý sửa kế hoạch cũ, đá Khương Thành Dực đi thật xa, giờ lại nghe hắn nhắc lại mệnh lệnh cũ, lửa giận trong lòng lập tức bùng lên.
Hắn vẫn cười, nhưng nụ cười không tới đáy mắt: “Thành Dực yên tâm. Lần này ta không đích thân xông trận, không cần ngươi hộ vệ. Ngươi là phó tướng tây lộ quân, không phải hộ vệ của ta. Ngày mai quan hệ trọng đại, cần chính ngươi cẩn trọng, đừng để sai sót.”
Khương Thành Dực còn muốn nói, đã thấy sắc mặt Thường Ngọc Thanh lạnh băng, đành nuốt lời, ôm quyền: “Tuân lệnh!”
Ra khỏi trướng, Thường Ngọc Thanh mới khẽ cười thành tiếng, để thân binh khoác áo choàng, ôm mũ trụ bước ra. Chiếu dạ bạch đã đứng đợi sẵn. Hắn tung người lên ngựa, ánh lửa chiếu lên huyền giáp, lạnh lẽo như băng. Hắn ghé sát tai Khương Thành Dực, thì thầm: “Toàn bộ mười vạn binh mã của ta… giao cả cho ngươi đấy. Nhớ đưa chúng đến ngoài thành Thái Hưng đúng hạn.”
Không đợi trả lời, hắn cười lớn một tiếng, kẹp bụng ngựa, dẫn ba trăm thân vệ lao vào bóng đêm như gió cuốn.
Cùng đêm ấy, tám vạn tinh kỵ Bắc Mạc biến mất trong màn đêm dày đặc. Còn lại “mười vạn đại quân”… chỉ là doanh trướng rỗng, cờ xí tung bay, lừa gạt tai mắt Nam Hạ.
Trong thành Hán Bảo, một vạn quân công thành vẫn đang phóng túng đến điên cuồng.
Phía tây thành, một dãy nhà đất nghèo nàn chen chúc nhau, ngõ nhỏ ngoằn ngoèo như mạng nhện rách. Mười mấy tên lính Bắc Mạc cầm đuốc, chửi thề om sòm đi qua.
“Lão đại, cửa viện mở toang, chắc người chạy hết rồi, còn vào không?” “Đi mẹ nó! Đã lật hơn chục nhà, chẳng có cái gì đáng tiền! Đừng nói nữ nhân, đến cái lông gà cũng không thấy! Xui thật, sao lại lạc vào cái ổ chuột này!”
Hán Bảo chia đông tây hai thành. Đông thành là phủ nha và nhà giàu. Tây thành là dân thường. Mà khu gần tường tây này, chính là chỗ nghèo nhất trong nghèo, ngày thường ăn ba bữa đã là phúc lớn, lấy đâu vàng bạc châu báu cho chúng cướp?
Bọn chúng chán nản, nghe tiếng cười dâm từ đông thành vọng lại, mắt lập tức sáng lên. Một tên chỉ tay: “Lão đại, bên kia mới náo nhiệt! Đi thôi, chậm là hết phần ngon!”
Tên đầu mục vung tay: “Đi! Nhanh chân lên, kẻo chỉ còn nước canh!”
Tiếng bước chân hỗn loạn xa dần, ánh lửa bị gió đêm cuốn tắt. Bóng tối lại bao trùm.
Trong sân viện cửa mở toang ấy, A Mạch nín thở đến mức tim muốn vỡ tung, mãi mới dám thở ra. Nàng rón rén bò ra khỏi đống đồ lộn xộn sau tường, mặt mũi lem luốc tro bụi, ngồi phịch xuống đất, thở hổn hển như cá mắc cạn.
Binh pháp viết: thực tắc hư chi, hư tắc thực chi. Nếu không cố ý mở toang cửa, vứt đồ đạc lung tung làm bộ đã bỏ chạy, chỉ e bọn chúng đã xông vào lục soát. Lúc ấy, cái mạng nhỏ này còn giữ nổi sao?
Nàng không ngờ mình còn sống sót từ đầu tường xuống. Đầu tiên là mũi tên suýt thủng đầu, sau đó giả chết nằm dưới đống thi thể đến tối mịt, rồi nhân đêm bò vào khu ổ chuột này. Chưa đầy một ngày, nàng đã đi qua Quỷ Môn Quan mấy bận.
Nằm ngửa nhìn trời sao lấp lánh, A Mạch tự giễu cười thầm: Sinh mệnh của mình, đúng là ương ngạnh đến đáng sợ. Mẹ từng nói: muốn sống dai như gián, phải chịu được bóng tối và ẩm mốc mà người khác không chịu nổi. Những thứ còn đáng sợ hơn bóng tối và ẩm mốc, nàng cũng đã chịu được hết. Thì còn sợ gì nữa?
Nếu ông trời thật muốn lấy mạng nàng, đã lấy từ bốn năm trước. Đã không lấy lúc ấy, thì chứng tỏ ngay cả ông trời cũng chê nàng, không thèm thu nữa.
Nàng cười khổ, bụng lại réo sùng sục. Còn tưởng đói đến cùng cực sẽ không còn biết đói. Hoá ra vẫn đói.
A Mạch chống tay ngồi dậy, lần mò vào nhà. Nhà nghèo không phân bếp với buồng, chỉ có gian ngoài nấu nướng, gian trong ngủ. Nàng sờ soạng quanh bếp, cuối cùng cũng chạm được nửa cái bánh cao lương khô cứng trong nồi.
Trời ơi, ông trời quả nhiên chưa muốn nàng chết đói! Nàng mừng rỡ, chẳng buồn xem còn ăn được không, lập tức nhét vào miệng.
Nhưng bánh vừa đưa đến môi, tay nàng đột nhiên cứng đờ.
Đống củi bên bếp… đang run lẩy bẩy.
Một cái đầu nhỏ xíu thò ra khỏi đống củi, mặt đen nhẻm như quỷ, chỉ có đôi mắt sáng lấp lánh, nhìn nàng chằm chằm không chớp.
Lông tơ sau gáy A Mạch dựng ngược. Nàng suýt nữa hét lên “Quỷ!”, rồi bỏ chạy thục mạng. Nhưng sợ quá hóa không chạy được. Nàng chỉ ngây người, run run đưa nửa cái bánh ra: “Ngươi… ăn không?”
Người dọa người, dọa chết người. Người dọa quỷ, cũng dọa chết quỷ.
Con “quỷ” kia cũng giật mình vì hành động của nàng, há miệng định hét: “A——”
Nhanh như chớp, A Mạch nhét luôn cái bánh vào miệng nó. “A” lập tức biến thành “Ưm ưm”.
Thanh âm mềm mại, non nớt – là một con “nữ quỷ”!
A Mạch một tay bịt chặt miệng, tay kia đè vai, ghé sát thì thầm: “Kêu cái gì? Muốn gọi lũ Bắc Mạc đến à?”
“Nữ quỷ” lập tức ngừng giãy, mắt long lanh nước nhìn nàng đầy đáng thương.
A Mạch hạ giọng: “Ta cũng là người Nam Hạ, trốn vào đây tránh thát tử. Chúng ở ngay ngoài kia. Kêu một tiếng, cả hai ta toi. Im lặng, ta buông tay.”
“Nữ quỷ” gật đầu lia lịa.
A Mạch thử buông tay, thấy không kêu nữa, mới ngồi phịch xuống đất, thở phào một hơi dài.
Bụng lại réo. Nàng liếc “nữ quỷ” một cái, thản nhiên rút nửa cái bánh từ miệng cô bé ra, phủi phủi, thổi thổi, rồi ngoạm luôn.
Ba miếng hết sạch.
Bánh khô không khốc, lại chưa uống giọt nước nào cả ngày, nghẹn cứng ở cổ họng.
A Mạch vỗ ngực bình bịch, mắt trợn ngược, mặt tím tái.
Nàng thầm nghĩ bi ai: Trải bao sóng gió, cuối cùng lại chết vì một miếng bánh cao lương? Nếu gặp cha mẹ ở suối vàng, chắc họ cười rụng răng mất…